bác hồ trong trái tim tôi bác hồ trong trái tim tôi
CHÚNG TÔI HỌC BÁC HỒ VIẾT BÁO, LÀM BÁO

 

 

Bác Hồ trong ký ức của tôi

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình cán bộ miền Nam tập kết. Khi ra Hà Nội, ba tôi làm báo Nhân Dân, còn mẹ tôi làm việc ở trường học sinh miền Nam, đóng ở Thanh Xuân ngoại thành Hà Nội. Khi ấy tôi còn nhỏ xíu nhưng vẫn nhớ Bác Hồ đến thăm trường và cho kẹo, chụp ảnh chung với bọn trẻ con chúng tôi như thế nào. Những kỷ niệm ấy sau này tôi đã viết lại và được chọn đăng trong tập “Bác Hồ kính yêu” của NXB Kim Đồng sau khi Bác mất.

Khoảng đầu những năm 1960, khi nhà tôi dọn về ở ngay trụ sở báo Nhân Dân 71 Hàng Trống, Hà Nội, tôi cùng các bạn con em cán bộ của báo Nhân Dân cũng mấy lần được đón Bác, chụp hình chung dưới gốc đa báo Nhân Dân…có bạn còn được Bác Hồ ẵm trong lòng để chụp ảnh. Mẹ tôi kể khi Bác đến thăm báo Nhân Dân bao giờ Bác cũng ưu tiên cho các cán bộ miền Nam tập kết và con em của họ đứng gần Bác để chụp ảnh.

Năm 1969, khi Bác mất, trời mưa suốt mấy ngày đêm, cán bộ miền Nam tập kết được ưu tiên đi viếng Bác trước khi đưa thi hài Bác về địa điểm bí mật để chờ xây Lăng. Tôi còn nhớ khi ấy tôi chờ ba mẹ tôi trong dòng người chờ vào viếng ở trước Ba Đình trong màn mưa tầm tã, thấy ai cũng khóc ròng, nước mắt hòa vào nước mưa mà chẳng ai chịu ra về.

Báo Nhân Dân lúc đó có nhiều nhà báo có dịp được gặp và viết bài, chụp ảnh về những chuyến đi của Bác, trong đó có ba tôi. Hiện nay ba tôi đã gần 90 tuổi mà vẫn giữ những bài viết, tấm ảnh ấy như những kỷ vật quý báu nhất của mình. Chú ruột tôi, một bác sĩ quân y, khi Bác Hồ mất, chú cũng trang trọng đặt tấm chân dung Bác Hồ trên bàn thờ tổ tiên. Chú luôn bảo tôi: Không có Bác Hồ sao có được ngày hôm nay hả cháu ?”.

Những hình ảnh ấy, những kỷ niệm ấy cùng những câu chuyện tôi được nghe ba mẹ, các cô chú nhà báo kể không bao giờ phai nhạt và đã trở thành một ký ức sâu sắc trong tôi. Ngay từ khi còn ngồi ghế nhà trường cho đến bây giờ trở thành một nhà báo, tôi và nhiều bạn bè, đồng nhiệp đều vẫn khẳng định rằng bên cạnh vai trò là lãnh tụ, Bác là một người làm báo, viết báo kiệt xuất. Và khi trở thành một giảng viên báo chí, tôi cũng thường đưa nội dung này vào bài giảng của mình.

Trong cuộc đời bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước của Bác, một trong những công việc Người làm đầu tiên là học viết báo và làm báo. Suốt 79 năm đời mình, Người cũng đã có 50 năm liên tục cầm bút viết báo. Cuộc đời hoạt động Cách mạng của Người luôn gắn chặt với hoạt động viết báo, viết văn. Ba lần Người cảm thấy hạnh phúc nhất trong công việc cầm bút, đó là lần đầu tiên được đăng một bài báo, lần đầu tiên được đăng một truyện ngắn và là lần viết xong “Tuyên ngôn Độc Lập” năm 1945, một tác phẩm được coi là “thiên cổ hùng văn”.

Một học giả cho rằng: khối lượng công việc của một người tự cho rằng “chỉ có duyên nợ với báo chí” mà như thế thì đến nay vẫn ít nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp nào của chúng ta vượt qua được. Một nhà sử học của Pháp đã thốt lên đầy ngạc nhiên sau khi nghiên cứu về các tác phẩm của Bác Hồ: “Nếu Nguyễn Ái Quốc không phải bận việc lớn là lãnh đạo Cách Mạng Việt Nam mà chuyên tâm theo con đường cầm bút thì chắc chắn ông đã là một trong những nhà văn lớn nhất thế giới thế kỷ 20”.

Bác Hồ - Người gắn liền hoạt động báo chí với hoạt động Cách mạng

Là một nhà báo, tôi nhận thấy ngoài tầm cỡ một lãnh tụ vĩ đại, một danh nhân văn hóa, có thể nói Bác Hồ còn là một nhà báo tài ba, uyên bác và có tay nghề xuất sắc. Bác đã sử dụng ngòi bút tinh luyện xuất chúng của mình như một vũ khí sắc bén, trở thành “đòn xoay chế độ”, vì Bác quan niệm rằng “cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Trang giấy cây bút là vũ khí sắc bén của họ”. Sinh thời Bác không nhận mình là nhà báo, mà chỉ là “người có duyên nợ với báo chí”. Bác từng nhấn mạnh: “Cây bút là vũ  khí sắc bén, bài báo là tờ hịch Cách mạng động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, là vũ khí sắc bén trong  sự nghiệp phò chính trừ tà…”. Bác viết báo say mê thế nào thì cũng đọc báo say mê thế ấy. Điều đáng chú ý là Bác luôn tự đọc báo, dậy sớm để đọc báo, vừa đọc vừa lấy ngón tay dò theo từng dòng chữ để không bỏ sót, chú ý điều gì Bác đều đánh dấu ngay bên lề, chỉ đạo ngay việc cần làm. Người làm báo Việt Nam tự hào biết bao khi có một “Độc Giả số Một” là chủ tịch Hồ Chí Minh từng đam mê đọc báo và coi báo chí sẽ đem lại hiệu ứng xã hội thiết thực, như một món ăn tinh thần không thể thiếu được trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.

Tinh thần báo chí, thái độ với báo chí, cách làm báo và cả cách đọc báo của Bác luôn hiện lên trong tôi mỗi khi tôi ngồi vào bàn viết như một lời nhắc nhở ân cần nhất, yêu thương nhất.

Bác Hồ - Một nhà báo lớn để lại nhiều bài học lớn cho báo chí cách mạng Việt Nam

Người ta thường nói năng khiếu cộng với sự lao động mới trở thành một tài năng. Bác Hồ hội tụ cả hai yếu tố ấy trong quá trình làm báo của mình. Đây chính là một tấm gương lớn cho tôi và những nhà báo Việt Nam noi theo. Bác là người nói và viết được bằng các thứ tiếng Pháp, Nga, Trung Quốc. Bác quan tâm đến báo chí cho đến những năm cuối cùng của cuộc đời. Bài báo thực sự đầu tiên của Bác là vào năm 1919 (đó là bài “Vấn đề dân bản xứ” đăng trên báo L”Humanite (Nhân đạo) của Pháp) và bài báo cuối cùng là bài viết về thiếu nhi vào ngày 1 tháng 6 năm 1969.

Theo Giáo sư tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn, trong khoảng 50 năm cầm bút, Bác đã viết hơn 2000 bài báo, 276 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký, Bác có gần 200 bút danh, Bác cũng từng chỉ đạo mở lớp đào tạo hơn 300 cán bộ báo chí…Con số đó cho thấy khối lượng công việc của một người cầm bút như Bác rất lớn, rất chuyên nghiệp. Chúng tôi nhận thấy trong tất cả những bài báo, những bài phát biểu đến ngôn phong nói chuyện, Bác đều chú ý đến tính mục đích và đối tượng, đến mục tiêu và ý nghĩa, đến sự truyền đạt nhanh, ngắn gọn, lý thuyết đi đôi với thực tiễn, dễ tiếp thu, dễ hiểu. Tư tưởng của Bác là báo chí chính là công cụ để hoạt động cách mạng, để phục vụ nhân dân, để đấu tranh với cái xấu và tuyên truyền cho cái tốt, cái mới…

Một nhà nghiên cứu đã nói rất đúng: Trong tư duy của Người, đối tượng của báo chí không chỉ dành riêng cho một số tầng lớp nào đó mà nhất thiết phải hướng về “ đại đa số dân chúng”. Tính chất báo chí, theo Bác, chính là tinh thần quần chúng và tính chiến  đấu…”. Bác dạy: “Nhà báo phải là người chí công vô tư, hiểu biết rộng và có cái tâm trong sáng”. Bác hết sức chú trọng về mặt đạo đức báo chí, hễ có dịp gặp gỡ các nhà báo là Người đề cập đến vấn đề này. Chính Bác cũng là một tấm gương về đạo đức cao cả của báo chí mà thể hiện rõ rệt nhất là người làm báo để phục vụ Cách mạng, cho nhân dân; không viết để lưu danh thiên cổ mà viết để tuyên truyền giáo dục lý tưởng cách mạng. Bác đã để lại tấm gương sáng về mục đích viết báo của mình. Bác viết cho cả những tờ báo nhỏ, Bác viết cho cả các em thiếu nhi. Bác bao giờ cũng nhờ người có trình độ văn hóa thấp đọc trước xem có dễ hiểu không rồi mới cho đăng. Bác viết lỡ có chi tiết sai là tự viết lời đính chính.

Là một người có trình độ uyên thâm song Bác luôn viết bằng tất cả ngôn ngữ giản dị, trong sáng, dễ hiểu nhất. Quan điểm viết cho dân chúng đọc đã xuyên suốt các hoạt động và suy nghĩ của Người khi cầm bút viết báo và Người cũng luôn dặn người viết báo phải xác định được mục đích, tiêu chí viết báo. Bác đặt ra tiêu chí với các nhà báo: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra, không nên nói ẩu. Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ viết”. Nhng kinh nghiệm quý báu ấy thực sự đã là cẩm nang, là hành trang không thể thiếu của những người làm báo chúng tôi.

Câu chuyện một nhà báo viết điếu văn khóc Bác trong tù

Sau chiến tranh, chúng ta có hàng chục ngàn chiến sĩ đồng bào đã ngã xuống, trong đó có gần 500 liệt sĩ nhà báo cách mạng mọi thời kỳ. Họ là những con người trung hiếu, tay bút tay súng, vừa hồng vừa chuyên, chiến đấu trên cả mặt trận tư tưởng cũng như trên chiến trường như những chiến sĩ thật sự trên đường băng Tân Sơn Nhất, trong chiếc dịch  Mậu Thân, ở Thành cổ Quảng Trị Khe Sanh, trên đường Trường Sơn huyền thoại, trên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, trên chiến trường giúp bạn và biên giới phía Bắc và mới đây là trên cuộc đấu tranh giữ vững chủ quyền tổ quốc trên  mọi vùng lãnh thổ, biển Đông.

Và câu chuyện của nhà báo Bùi Á mà chúng tôi kể sau đây là một câu chuyện cụ thể, gợi cho chúng tôi một hình ảnh về người làm báo gửi trọn tấm lòng yêu Đảng yêu Bác vào công việc và cuộc sống của mình.

Nhà báo Bùi Á là một tay máy tài ba, có tiệm chụp ảnh riêng ở Huế, ông đã đi theo Cách mạng, tập kết ra Bắc và sau đó được điều về báo Nhân Dân, được Báo Nhân Dân phân công chụp hình Bác trong những năm 1955 đến 1965. Nhưng rồi khi đi vào chiến trường khu 5, ông bị địch bắt. Biết ông là phóng viên báo Đảng, lại chụp ảnh Bác Hồ nhiều, chúng tra tấn ông dã man hòng lung lạc ý chí ông, song chúng không  thể ngờ rằng, ngay trong nhà lao đầy gian khổ và cực hình ấy, khi biết tin Bác Hồ mất, ông đã là người soạn thảo bài điếu văn và cùng anh em tù binh bí mật làm lễ truy điệu Bác trong tù.

Sau giải phóng, ông quay lại nhà lao Non Nước tìm bản soạn thảo điếu văn chôn giấu ở đó thì không sao tìm được, ông đành bày tỏ tâm niệm ấy với một cựu chiến binh ở Đà Nẵng, rồi quay về Đà Lạt nơi ông sinh sống và hành nghề ảnh. Bẵng đi mấy năm, nhà lao Non Nước được san ủi, người cựu chiến binh kia nhớ lời dặn của nhà báo Bùi Á, cất công quay lại nhà lao Non nước và đã tìm được bản thảo điếu văn nhà báo Bùi Á cùng các tù binh viết khi Bác mất. Đó là một kỷ vật, một vật chứng cho lòng trung kiên và thương kính Bác của những chiến sĩ, nhà báo trong lao tù của địch.

Là nhà báo, lại là con em các nhà báo từng công tác ở Báo Nhân Dân, chúng tôi đã cùng nhau giúp đỡ nhà báo Bùi Á khi ông lâm bệnh nặng và già yếu. Chúng tôi đã tự nguyện kết nối liên lạc giữa ông và người cựu chiến binh năm xưa, và đồng thời cũng góp phần lưu giữ tư liệu và viết lại câu chuyện này trên mặt báo, như một hành động cụ thể để chia sẻ, để nêu thêm một ví dụ người thực việc thực về tấm lòng của những người làm báo với Bác Hồ kính yêu.

Câu chuyện làm báo của Bác Hồ, câu chuyện làm báo của những nhà báo đã cống hiến hết sức mình, suốt đời học tập và làm theo lời Bác, sẵn sàng hy sinh cho đất nước, luôn in sâu trong tâm khảm tôi, như một tấm gương, như một lời nhắc nhở, như một bài học cho tôi và cho mọi thế hệ mai sau.

Di chúc Bác Hồ và trách nhiệm, tình thương của Người

Hôm nay, đã qua 45 năm thực hiện di chúc chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi từ một cậu bé ngẩn ngơ nhìn mọi người khóc ròng khi viếng Bác, trở thành một người làm công tác báo chí, tôi nhận thấy bao nhiêu điều đáng suy gẫm trong từng từ ngữ, trong từng ý tứ sửa đi sửa lại của mỗi lần Bác soạn “Di chúc”, trong từng câu dặn dò da diết của một vị lãnh tụ ở cái tuổi thất thập cổ lai hy. Mỗi lời dặn dò đều nghiêng hết về người ở lại, như sợ mọi người cúng viếng tốn kém, sợ  không biết mình còn phục vụ nhân dân bao lâu nữa, sợ sự ra đi của mình sẽ trở thành đột ngột với mỗi người dân…Nếu Bác từng viết một  “Bản tuyên ngôn độc lập” được coi là “thiên cổ hùng văn” thì khi Bác viết “Di chúc” cũng là một bản di chúc bất hủ về trách nhiệm và tình thương để lại cho người, cho đời.

Trong di chúc của Bác, điều tâm đắc nhất với tôi là khi Bác nói về Đảng, về sự đoàn kết. Với những người làm báo, công tác xây dựng và phát triển Đảng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của mỗi đơn vị báo chí, mỗi chi bộ và mỗi đảng viên hoạt động trong đội ngũ báo chí.

Tổ chức phát triển Đảng trong báo chí không thể chạy theo số lượng, càng không thể coi nhẹ phẩm chất chính trị vì làm báo tức là làm chính trị. Làm báo là làm cầu nối của Đảng đến công chúng bạn đọc và nhân dân, đến mỗi đảng viên, nên không thể coi nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng. Muốn làm công tác tuyên truyền tốt thì bản thân những người làm báo phải đoàn kết, phải làm gương, phải biết tự phê bình và phê bình tốt (điều này cũng nhiều nơi còn làm hình thức, cả nể và giản đơn). Bản thân mỗi đơn vị báo chí và mỗi đảng viên phải thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, nếu không việc tuyên truyền không những không hiệu quả mà còn phản tác dụng.

Tôi đã được đọc nhiều, học nhiều về các tác phẩm của Bác, về gương làm báo của Bác và điều đó đã thấm sâu trong nghĩ suy, trong hành động, trong tâm nguyện của tôi là: Hãy làm những điều có ích cho đất nước; nghe theo lời Bác dạy là nói phải đi đôi với làm; hãy hành động theo ý thức mình vì mọi người và hãy làm báo không phải để lưu danh, để nổi tiếng, để kiếm tiền, mà để cống hiến cho đất nước, để phục vụ nhân dân. Vì thế, trong suốt hơn ba chục năm cầm bút, tôi luôn có ý thức và phấn đấu làm những việc gì tốt nhất có thể làm được.

Khi tham gia giảng dạy môn phóng sự ở trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh cũng như các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ của Hội nhà báo các cấp, tôi thường đưa sinh viên đi thực tập ở những nơi có thể hun đúc trui rèn truyền thống cách mạng, truyền thống quân đội chứ không chỉ là những chuyến tác nghiệp bài vở. Hay khi tham gia một số, lĩnh vực văn học nghệ thuật và các hoạt động  khác như: báo cáo các chuyên đề về quy chế Phát ngôn viên, học tập gương viết báo của Bác Hồ, đạo đức báo chí, báo chí hiện đại và tham gia làm ban giám khảo, viết tham luận một số cuộc tọa đàm, hội thảo, viết bài tham dự một số cuộc thi của các ban ngành trong và ngoài thành phố…tôi luôn chú trọng viết về những vấn đề mang tính nhân văn, về gương người tốt việc tốt, về nhân tố tích cực, vì theo lời Bác dạy: “Muốn xây dựng CNXH thì phải có con người XHCN”. Cá nhân tôi cũng đã được Đảng ủy Khối tặng giấy khen về cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Một trong những việc làm thiết thực bé nhỏ của tôi là suốt 20 năm qua, sau lần đầu tiên đến viết bài về khu thương binh Long Hải, tôi đã đều đặn và liên tục kết nối, vận động các đoàn thể đơn vị đến thăm tặng quà, biểu diễn văn nghệ phục vụ thương binh ở đây. Gần đây nhất là tháng 7-2014 vừa qua tôi đã chủ động tổ chức đưa các thương binh nặng đang điều trị ở Long Hải, Bà Rịa Vũng Tàu về thăm thành phố Hồ Chí Minh, thăm Bến Nhà Rồng, bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu du lịch Suối Tiên...theo mong muốn của anh chị em thương binh. Vì lời tâm sự của các thương binh cứ đau nhói trong lòng tôi: “Bao nhiêu năm nay, thương binh chúng tôi toàn đi thng từ Khu điều dưỡng ở Long Hải đến quân y viện ở Thành phố Hồ Chí Minh bằng xe cứu thương, thành phố mang tên Bác thay đổi thế nào thương binh chúng tôi chỉ biết qua tivi. Đến cái hầm chui qua sông Sài Gòn chúng tôi cũng chả biết ra sao..”. Việc đưa thương binh nặng đi thăm thành phố Hồ Chí Minh tưởng như khó có thể thực hiện được, nhưng với sự kết hợp của các đơn vị: Ban Tuyên giáo Thành ủy, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu du lịch Suối Tiên, Đoàn thanh niên VTV9, Tạp chí Du Lịch TP ... Chúng tôi đã hoàn thành chuyến đưa thương binh đi thăm thành phố mang tên Bác trong niềm xúc động của những thương bệnh binh nặng quanh năm ngồi trên chiếc xe lăn trong khu điều dưỡng.

Theo tôi nghĩ đó cũng là một cách thể hiện thiết thực lời dạy của Bác Hồ, di chúc của Bác Hồ. Không có việc gì khó. Nếu chỉ vì mình, chỉ thấy cá nhân mình thì cái gì cũng khó, còn có tập thể, vì mọi người, vì cái chung, vì điều tốt đẹp, việc gì khó cũng ắt sẽ vượt qua được. Có lẽ nhiều người cũng chia sẻ với tôi điều mà tôi cảm nhận tấm gương của Bác: Hạnh phúc của một con người chính là đem lại được niềm vui hay hạnh phúc cho một hay nhiều người khác.

 

Huỳnh Dũng Nhân

Phó chủ tịch Hội nhà báo TP HCM

 Tổng Biên tập Tạp chí Nghề báo

CÁC TIN BÀI KHÁC:

Xem tin theo ngày

Ngày