bác hồ trong trái tim tôi bác hồ trong trái tim tôi
MÃI NHỚ VỀ MỘT TẤM LÒNG NHÂN ÁI

 

 

Tháng Tư và tháng Năm là khoảng thời gian có nhiều buổi lễ kỷ niệm những ngày trọng đại của lịch sử dân tộc Việt Nam. Khi nhớ về những thời khắc quan trọng đó, trong lòng mỗi người chúng ta đều trào dâng những tình cảm và lòng kính trọng về một vị lãnh tụ vĩ đại – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi có may mắn thuộc thế hệ sinh ra sau chiến tranh, được nuôi dưỡng và trưởng thành trong môi trường sống hòa bình và khá đầy đủ về điều kiện vật chất, lại có cơ hội được tiếp thu những kiến thức từ một nền giáo dục hiện đại. Tôi chỉ biết về Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những trang sách, bài hát, vần thơ và lời kể của những thế hệ đi trước. Nhưng đối với tôi, đây là một vị lãnh tụ thiêng liêng, vĩ đại song cũng rất gần gũi bởi chính phong cách, đạo đức trong lối sống, lối suy nghĩ và chính cuộc đời giản dị của Người.

Ngay từ khi còn nhỏ, tôi được nghe nhiều giai điệu về Người, trong đó, bài hát để lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất đó là ca khúc “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” của nhạc sĩ Phong Nhã. Chính những ca từ của bài hát này đã giúp những đứa bé như tôi, và cả những thế hệ sau đó, có thể hình dung ra những hình ảnh về Người một cách gần gũi và chân thật hơn. Khi trưởng thành và lựa chọn cho bản thân niềm đam mê theo đuổi nghề báo chí, tôi nhớ về Người – một vị lãnh tụ trong hình ảnh của một nhà báo, nhà văn hóa, nhà cách mạng nhiều hơn. Có lẽ điều này cũng xuất phát từ chính thói quen nghề nghiệp.

1. Bác Hồ, một nhà văn hóa lớn

Năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới”.

Trên thực tế, không hẳn bất cứ ai hoạt động và sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa đều được xem là nhà văn hóa. Danh hiệu này được dành cho những người mà tài năng và sự cống hiến của họ đóng góp cho sự phát triển của nền tri thức văn hóa và khoa học của nhân loại. UNESCO đã đánh giá rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng của sự khẳng định dân tộc, đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sự đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam với lịch sử hàng nghìn năm, và những lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh được thừa nhận là nhà văn hóa, trước hết vì Người đã khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập tự do cho các dân tộc bị bóc lột, mục tiêu phấn đấu của cả cuộc đời Người là cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đây không phải chỉ là một sự nghiệp chính trị của một vị lãnh tụ mà còn là một sự nghiệp văn hóa của một nhà hoạt động vì quyền con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, lấy đó làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam. Người cũng có sự đóng góp quan trọng trong công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam, tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật và ý thức nghệ thuật mới.

Trong tác phẩm “Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh” Giáo sư - Phó tiến sĩ Đỗ Huy đã cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc mình đã hình thành từ những năm 20 của thế kỷ XX. Cũng theo tác phẩm “Hồ Chí Minh toàn tập” vào năm 1924, khi đến với buổi triển lãm nghệ thuật tổ chức tại Moscow (Nga), Người đã nói: “Mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính dân tộc của mình trong văn hóa nghệ thuật”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có những đóng góp quan trọng trong việc “thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau” giữa các dân tộc mà trước hết là hiểu biết về văn hóa. Đây cũng chính là những chủ trương về văn hóa của các dân tộc trong xu thế giao lưu, hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay.

Theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng khi đọc những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể điều đọng lại nơi người đọc không hẳn là cấu tứ ngôn từ hay quy luật gieo vần, mà chính là những ý nghĩa chính trị của nó, trong đó nổi bật lên niềm khát vọng về tự do, công lý, hạnh phúc và hòa bình cho nhân loại.

2. Bác Hồ, một nhà báo chuyên nghiệp và yêu nghề

Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, không chỉ đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại cho các thế hệ nhà báo hôm nay và mai sau nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, những lời chỉ dẫn có giá trị, được coi là hệ tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với nghề báo và người làm báo. Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh toàn tập” - NXB Chính trị Quốc gia có kể rằng tại cuộc họp Đại hội lần thứ II, Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-4-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “... Tất cả những người làm báo phải có lập trường chính trị vững chắc”“Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”. Và điều này đã trở thành một tư tưởng xuyên suốt toàn bộ đường lối thông tin đại chúng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian qua.

Khi ngẫm nghĩ lại lời nhắn nhủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Người làm báo cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”, những người đang làm nghề như tôi càng thêm kính trọng Người ở góc nhìn của một thế hệ đi sau đối với bậc trưởng bối. Ngày hôm nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, vũ khí sắc bén của những người làm báo không chỉ đơn thuần là “cây bút, trang giấy” mà còn có thêm nhiều công cụ hiện đại và tiện ích khác, thế nhưng, điều mà một nhà báo chuyên nghiệp không thể quên, đó là việc họ đang là những “chiến sĩ cách mạng” trên mặt trận thông tin truyền thông.

Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế và hàng loạt sai phạm, tiêu cực diễn ra trong xã hội, đội ngũ người làm báo cần có nhãn quan, sự nhạy cảm và tư duy chính trị. Nhà báo cần thiết phải có lập trường chính trị vững vàng, như lời yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhà báo phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng. Nên báo chí đều phải có đường lối chính trị đúng”. Và để làm tròn nhiệm vụ của mình, tôi luôn tâm niệm rằng ngoài việc phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cần không ngừng trau dồi về nghiệp vụ và văn hóa, nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ.

Dưới góc nhìn của một nhà báo chuyên nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những yêu cầu cần thiết ở một người làm báo: có trí thức sâu rộng, có trách nhiệm với công việc của mình, với sản phẩm của mình, với mọi hiệu quả và hệ quả của sản phẩm đó. Cũng trong Hồ Chính Minh toàn tập, vào tháng 5-1949, trong bức thư gửi đến lớp viết báo đầu tiên mang tên Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Muốn viết báo khá thì cần: Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người. Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu. Và cuối cùng, luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ...”. 

Ngoài việc viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có nhiều bài viết nói về công việc này, nhằm chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp hoặc những thế hệ đi sau. Trong bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III, Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8-9-1962, Người đã chia sẻ rằng “Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm”. Trong quá trình làm việc ở Thời báo Kinh tế Sài Gòn, từ những ngày đầu tập sự cho đến tận hôm nay, đã 12 năm trôi qua, nhưng trong lòng tôi vẫn ghi nhớ về lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là lời truyền đạt kinh nghiệm của một nhà báo đi trước.

Khi mới vào nghề, tôi được cơ quan cử đi học các lớp đào tạo về viết báo, tôi được các giảng viên truyền dạy về kỹ năng viết tin hình tháp ngược với cấu trúc cơ bản (5W+1H). Và bản thân tôi cũng khám phá ra rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đơn giản hóa những điều này thành một nhiệm vụ căn bản cho người viết. Đó là, trước khi viết, cần xác định: “Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? và Viết thế nào?”

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh rằng tính chân thật luôn được xem là đạo đức của người làm báo. Và bản thân cũng là một nhà báo, tôi luôn phấn đấu hướng đến lý tưởng được đóng góp vào sự phát triển lành mạnh và bền vững của ngành báo chí Việt Nam. Báo chí ngoài nhiệm vụ truyền thông còn đóng vai trò phản ánh những ý kiến mang tính xây dựng của người dân, nói lên tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của người dân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời báo chí cũng là phương tiện quan trọng để chống lại tệ nạn tham nhũng, buôn lậu; chống lại tội ác và các tệ nạn xã hội; chống lại những biểu hiện tha hóa, sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý rằng “làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung và cách viết”. Tư tưởng và nhận định này của Người đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Đặc biệt, trong xu hướng phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của truyền thông xã hội (social media) hiện nay, tôi nhận thấy càng có thêm những yêu cầu mới cho người làm báo. Đó là việc tận dụng những tiện ích của mạng Internet để giới thiệu công cuộc đổi mới và văn hóa Việt Nam với thế giới, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả các công cụ công nghệ thông tin để ngăn chặn, hạn chế tác dụng tiêu cực qua mạng Internet cũng như qua các phương tiện khác. 

3. Bác Hồ, một tấm lòng rộng mở

Ở góc nhìn của một người làm báo, trong quá trình thực hiện các đợt học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh (từ Chỉ thị 06-CT/TW cho đến Chỉ thị 03-CT/TW), tôi quan tâm nhiều đến quan điểm vị nhân sinh của Người. Người đã lấy nhân loại và giải phóng nhân loại làm trọng tâm trong tư tưởng của mình. Và tư tưởng “lấy con người làm cứu cánh” này không chỉ tác động chi phối các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội mà điều quan trọng hơn, nó thấm vào mọi mặt của đời sống xã hội, vào các quan hệ đạo đức, vào lý tưởng thẩm mỹ, vào quan niệm hạnh phúc, niềm tin và hy vọng. Trong bài viết “Vĩ đại một con người” cố Giáo sư Trần Văn Giàu, đã cho rằng: “Tầm cỡ một triết nhân chưa chắc ở chỗ giải quyết mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ thế giới ấy là thực hay ảo ảnh, là khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều hay điều mới lạ, mà chung quy ở mức độ quan tâm đến con người đang sống trên trái đất này…”. Chính quan điểm đó đã tạo nên nền tảng và cũng là nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sau khi hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự tập trung vào công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa và chăm lo đời sống cho người dân. Người vừa quan tâm đến cái chung của đất nước, của tập thể, của tổ chức vừa quan tâm đến từng con người cụ thể. Người dành sự ưu tiên chú ý của mình cho việc bảo đảm an sinh phúc lợi cho người già và trẻ em, trong đó bao gồm cả những người tàn tật và gia đình của thương binh, liệt sĩ.

Người cũng khẳng định rằng việc chăm lo đến đời sống của nhân dân là trách nhiệm của Đảng và Chính phủ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Do vậy, “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Và kế hoạch ấy phải đảm bảo đồng thời ba lợi ích: Lợi ích của nhà nước, lợi ích của tập thể và lợi ích của người lao động.

Từ những tư tưởng quản lý, điều hành đất nước đầy tính nhân văn của Người, tôi rút ra nhiều bài học cụ thể vận dụng vào trong cuộc sống, trong công việc hằng ngày của mình. Ở vai trò của một người làm báo, ngoài nhiệm vụ thông tin đến bạn đọc, tôi phải thực hiện tốt nhiệm vụ nâng cao đời sống tinh thần của người dân. Và trong bối cảnh ngày hôm nay, khi đất nước đang trải qua những thời điểm khó khăn về kinh tế, chính trị và ngoại giao… một người làm báo như tôi càng phải nhận thức rõ về một nhiệm vụ quan trọng: bằng thông tin của mình góp phần vào việc xây dựng dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, sáng tạo; gột rửa những thói hư, tật xấu, sự lười biếng, gian giảo, xảo quyệt, tham ô… thực hiện cần, kiệm, liêm chính, đấu tranh cho công bằng và phát triển xã hội

Bên cạnh đó, tôi cho rằng mỗi một nhà báo còn phải góp phần vào một mục tiêu chung - thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của người dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, để họ có niềm tin vào Đảng và Nhà nước, dám nói lên sự thật và được tạo điều kiện cho sự sáng tạo, tạo động lực cho sự phát triển xã hội.

4. Học tập tự nguyện và thường xuyên

Như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Lời yêu cầu phải thực hiện được một nền dân chủ chân chính, không ai được phép lợi dụng và lạm dụng quyền dân chủ để xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là một lý tưởng cao đẹp, cho đến tận hôm nay và trong tương lai.

Trên thực tế, những vấn đề về kinh tế, an sinh xã hội hiện nay cùng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng đang làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Trong vai trò của người làm báo, bên cạnh việc đấu tranh, phản ánh những mặt tiêu cực, hạn chế kể trên, tôi cho rằng một thách thức lớn là phải nhìn nhận được trong chính hoạt động tác nghiệp, hành nghề của mình cũng còn khá nhiều sai sót và hạn chế cần được khắc phục, sửa chữa.

Để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành một việc thường xuyên, tôi cho rằng bản thân mỗi cá nhân phải xem đây là một hành động tự nguyện, tựa như chúng ta tiếp nhận thông tin, kiến thức và kinh nghiệm hữu ích trong công việc, trong sinh hoạt thường ngày. Tôi học được ở Người một tấm gương về việc thực hiện đời sống mới, sửa đổi lề lối làm việc, tự phê bình và phê bình, chống chủ nghĩa cá nhân, tôn trọng và yêu thương lẫn nhau trong cộng đồng. Người làm báo dễ mắc phải căn bệnh “chủ nghĩa cá nhân”, có thể dễ dàng sử dụng phương tiện và công cụ trong tay mình để phê phán người khác nhưng thường thiếu sự cầu thị trong việc lắng nghe những lời góp ý, phê bình. Do đó, bản thân tôi tâm niệm rằng bên cạnh việc tiếp tục trau dồi và nâng cao phẩm chất nghề nghiệp, người làm báo còn phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe hơn về tính trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật và sống lành mạnh, trong sáng, không được lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật.

Trên thực tế, vẫn còn nhiều đảng viên và quần chúng cho rằng việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay vẫn còn mang nặng tính phong trào và hình thức. Điều này cũng phần nào phản ánh những điểm hạn chế trong công tác truyền thông đã không biến việc học tập này trở thành một hoạt động mang tính phổ biến và có tính lan tỏa trong toàn xã hội. Theo quan điểm cá nhân của tôi, ngoài việc một số chi bộ, đảng bộ cơ sở triển khai học tập chuyên đề còn mang tính hình thức, chưa thiết thực và chưa gắn với tình hình, nhiệm vụ cụ thể của đơn vị, địa phương thì một thách thức không nhỏ đó là việc lựa chọn nội dung và cách thức tổ chức sinh hoạt chuyên đề tại từng chi bộ.

Với một số loại hình cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp... khác nhau thì phương pháp, cách thức triển khai cũng phải khác nhau, bên cạnh đó còn cần có sự linh hoạt và chủ động từ những người làm công tác tuyên giáo. Chúng ta không thể bỏ qua sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông xã hội trong hoạt động triển khai việc học tập chuyên đề. Có thể nói, trong năm 2014 vừa qua, Việt Nam đã tận dụng một cách hữu hiệu những tiện ích của truyền thông xã hội cho mặt trận thông tin trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Do đó, chúng ta vẫn có thể tận dụng những công cụ này để tạo ra hiệu ứng xã hội tốt hơn cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Ngoài việc thu hút được sự chú ý của đông đảo quần chúng nhân dân, đó cũng là một cách thu hút các bạn trẻ đến với việc học tập một cách tự nguyện.

Quay trở lại với dòng thời sự ngày hôm nay, dù nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế nói chung và ngành báo chí nói riêng đang trải qua nhiều khó khăn và thách thức, tôi vẫn cảm thấy may mắn vì bản thân có cơ hội và có điều kiện để tìm hiểu và thấu hiểu một cách chân thực, sâu sắc những tư tưởng đầy nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Rõ ràng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng lớn, nhà lý luận mà còn thấy ở Người một trong những mẫu mực của con người trong thời đại mới, một thời đại của sự ổn định và phát triển bền vững mà chúng ta đang hướng tới.

 

Vũ Yến Dung  

Đảng bộ cơ sở Sở Công thương

 

 

 

CÁC TIN BÀI KHÁC:

Xem tin theo ngày

Ngày